Sức khỏe môi trường & Biến đổi khí hậu
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác truyền thông và các mô hình truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn tại miền Bắc
Đánh giá hiệu quả các mô hình truyền thông vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và nước sạch tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc, do Cục Quản lý Môi trường Y tế chủ trì.
Tổng quan dự án
- Lĩnh vực: Sức khỏe môi trường & Biến đổi khí hậu
- Thời gian thực hiện: 11 - 12/2020
- Cơ quan chủ trì: Cục Quản lý Môi trường Y tế, Bộ Y tế
- Đơn vị thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Sức khỏe (CEHS)
- Địa bàn: Các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc; khảo sát thực địa tại Thái Bình, Hà Giang, Cao Bằng và Điện Biên
Giới thiệu dự án
Nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá thực trạng công tác truyền thông và hiệu quả các mô hình truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc. Trên cơ sở đánh giá mức độ tiếp cận thông tin, kiến thức, thái độ và thực hành của người dân, nghiên cứu đề xuất các mô hình truyền thông thay đổi hành vi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và đặc điểm địa lý của từng vùng.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để hoàn thiện các hoạt động truyền thông thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại khu vực miền Bắc.
Vai trò của CEHS
CEHS là đơn vị thực hiện nghiên cứu, chịu trách nhiệm xây dựng thiết kế nghiên cứu, phát triển bộ công cụ khảo sát, tổ chức thu thập số liệu định lượng và định tính tại cộng đồng và cơ sở y tế, quản lý và phân tích dữ liệu, đồng thời xây dựng các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp.
Hoạt động chính
- Xây dựng thiết kế nghiên cứu và bộ công cụ đánh giá công tác truyền thông và các mô hình truyền thông thay đổi hành vi về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch.
- Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp về hoạt động truyền thông tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc; triển khai khảo sát định lượng và định tính tại Thái Bình, Hà Giang, Cao Bằng và Điện Biên.
- Đánh giá mức độ tiếp cận thông tin, kiến thức, thái độ và thực hành của người dân; đánh giá năng lực của cán bộ y tế, cộng tác viên và hiệu quả triển khai các hoạt động truyền thông tại địa phương.
- Đánh giá hiệu quả các mô hình truyền thông thay đổi hành vi đang được áp dụng, bao gồm CLTS, PHAST, Tiếp thị vệ sinh (SanMark), OBA và PforR.
- Xây dựng 03 báo cáo chuyên đề và 01 báo cáo tổng hợp, đề xuất các mô hình truyền thông và giải pháp nâng cao hiệu quả phù hợp với từng vùng sinh thái.
Kết quả chính
- Hoàn thành nghiên cứu đánh giá toàn diện về công tác truyền thông và các mô hình truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc.
- Cho thấy hoạt động truyền thông đã được triển khai với nhiều hình thức, nhưng mức độ tiếp cận thông tin và hiệu quả thay đổi hành vi còn khác biệt giữa các nhóm dân cư và giữa khu vực đồng bằng với miền núi, đặc biệt đối với các hành vi về sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh và vệ sinh cá nhân.
- Đánh giá toàn diện hiệu quả của các mô hình truyền thông như CLTS, PHAST, SanMark, OBA và PforR, làm rõ ưu điểm, hạn chế, điều kiện triển khai và khả năng duy trì của từng mô hình.
- Xây dựng hệ thống khuyến nghị về tăng cường năng lực truyền thông cho cán bộ y tế và cộng tác viên, đa dạng hóa hình thức truyền thông, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, làm căn cứ kỹ thuật cho Cục Quản lý Môi trường Y tế xây dựng kế hoạch truyền thông giai đoạn tiếp theo.